Di truyền tính kháng bệnh khoai tây do virus Y
Nguồn: Lesley Torrance, Graham H. Cowan, Karen McLean, Stuart MacFarlane, Aqeel N. Al-Abedy, Miles Armstrong, Tze-Yin Lim, Ingo Hein & Glenn J. Bryan. 2020. Natural resistance to Potato virus Y in Solanum tuberosum Group Phureja. Theoretical and Applied Genetics March 2020; 133:967–980.
Gen chủ lực mới điều khiển tính kháng bệnh virus Y của khoai tây (Potato virus Y) trong quần thể giống khoai tây lưỡng bội Solanum tuberosum, nhóm khoai tây Phureja và nhóm Tuberosum; đã được xác định về mặt sinh học và di truyền. Gen Ry(o)phu, được lập bản đồ di truyền trên nhiễm sắc thể 9. Nguồn di truyền mới này kháng virus Y [Potato virus Y: PVY] được phân lập và được định tính trong 3 quần thể khoai tây lưỡng bội được lai từ bố và mẹ. Dữ liệu phân ly của hai quần thể (05H1 và 08H1) cho thấy có sự hiện diện của một gen trội điều khiển tính kháng PVY. Sau đó, người ta phân tích bằng phương pháp “DaRT” của tổ hợp lai 08H1, rồi lập bản đồ trên nhiễm sắc thể 9. Phân tích các thông số di truyền chi tiết cho thấy tính kháng đã được định tính khá đầy đủ bằng bản đồ liên kết với bộ chỉ thị SNP của quần thể tổ hợp lai 06H1, cùng với những số liệu marker mới. Cả khoai tây S. tuberosum Group Phureja và S. tuberosum Group Tuberosum trong phả hệ di truyền, chúng đều có tính kháng được tìm thấy trên nst 9 tại một locus mà tính kháng PVY chưa được tìm thấy trước đây, cho dù người ta xác định một bằng chứng có ít nhất một trong những yếu tố di truyền khác điều khiển tính kháng PVY. Vị trí này trên nst 9 được đặt tên là Ry(o)phu thể hiện vai trò của những gen mã hóa NB-LRR điều khiển tính kháng ấy. Phân tích kiểu hình biểu hiện qua virus đánh dấu bằng GUS cho thấy có một lượng nhỏ sự tự tái bản PVY xảy ra trong nhóm tụ phát, ở tế bào biểu bì của lá khoai tây bị chủng bệnh của cây kháng, mà không kích thích phản ứng siêu nhạy cảm nào hết (hypersensitive response). Tuy vậy, virus này không thể xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn và lan truyền theo cơ chế nội hấp (systemic spread), bởi vì tất cả đã được phòng ngừa đầy đủ.
Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-019-03521-y