CẢI TIẾN GIỐNG KHOAI

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Tính trạng kháng bệnh mốc sương ngoài đồng của khoai tây mang gen của loài Solanum americanum với thuật ngữ Rpi-amr3 và Rpi-amr1

 Tính trạng kháng bệnh mốc sương ngoài đồng của khoai tây mang gen của loài Solanum americanum với thuật ngữ Rpi-amr3 và Rpi-amr1

Nguồn: Svante Resjö Iqra, Nam P Kieu, Muhammad Awais Zahid, Marit LenmanBjörn Andersson

 & Erik Andreasson. 2025. Late blight field resistance in potatoes carrying Solanum americanum resistance genes (Rpi-amr3 and Rpi-amr1). GM Crops & Food; Pages 263-271; Published online: 23 Mar 2025

Khoai tây trồng (Solanum tuberosum L.) là loài cây trồng quan trọng trên thế giới, nhưng sản lượng bị ảnh hưởng cực trọng bởi bệnh mốc sương (late blight), do pathogen là  nấm Phytophthora infestans. Thiệt hại kinh tế của bệnh này rất lớn, những chiến lược quản lý bệnh hiện nay vẫn dựa chủ yếu vào thuốc trừ nấm, mà điều này đối diện với tăng cường hạn chế do luật lệ và môi trường. Để giải quyết thách thức này, giống khoai tây có gen kháng truyền từ loài khoai tây hoang dại là giải pháp đầy hứa hẹn. Người ta tiến hành đánh giá tính kháng ngoài đồng đối với bệnh mốc sương dòng khoai tây Maris Piper mang gen kháng từ loài hoang dại Solanum americanum, đó là gen Rpi-amr3 và Rpi-amr1 được theo dõi liên tục trong 3 năm (2018–2020) tại Thụy Điển.

Người ta bố trí các nghiệm thực trên đồng ruộng, dưới áp lực lây nhiễm bệnh tự nhiên để đánh giá tính kháng. Kết quả cho thấy các dòng transgenic kháng bệnh mốc sương được so sánh với đối chứng nhiễm. Tuy nhiên, triệu trứng nhiễm bệnh nhẹ được người ta quan sát trong các dòng con lai transgenic. Như vậy kết quả đã phác họa phần nào hiệu quả của tính kháng bệnh mốc sương từ S. americanum cung cấp nguồn gen kháng bệnh mạnh mẽ, nhấn mạnh tiềm năng của kết quả chồng gen kháng để duy trì tính hiệu quả ấy. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ cho sự phát triển giống khoai tây kháng bệnh như một giải pháp thay thế bễn vững của thuộc diệt nấm, tăng cường an toàn thực phẩm và nông nghiệp thân thiện với môi trường.

Xem https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/21645698.2025.2479913?src=exp-la

Gen mã hóa sinh tổng hợp men acetolactate synthase của nấm Phytophthora infestans và tính kháng bệnh mốc sương khoai tây ngoài đồng

Gen  mã hóa sinh tổng hợp men acetolactate synthase của nấm Phytophthora infestans và tính kháng bệnh mốc sương khoai tây ngoài đồng

Nguồn: Nora TemmeTobias HaehreClarissa BoyherLydia HoppeColin DavenportZach StumoKai PrenzlerAnja MaeserMaike PflugmacherKerstin KochDietmar J Stahl. 2025. Host-induced gene silencing of the amino acid biosynthesis gene acetolactate synthase of Phytophthora infestans caused strong enhanced late blight resistance of potato in the field. Plant Biotechnol J.; 2025 May 9.  doi: 10.1111/pbi.70133.

Bệnh mốc sương khoai tây do nấm Phytophthora infestans là bệnh nghiêm trọng nhất trong sản xuất khoai tây. Tác giả trình bày hiệu quả của công nghệ di truyền HIGS (sự im lặng của gen do cây chủ gây ra) chống lại gen sinh tổng hợp amino acid của nấm gây bệnh để làm tăng tính kháng nấm oomycete xâm nhiễm vào cây trồng trên ruộng. Một “RNAi hairpin” được thiết kế chống lại gen ALS (acetolactate synthase) của nấm Phytophthora infestans được chuyển nạp vào khoai tây. Dòng khoai tây HIGS-ALS biểu hiện gen đích vô cùng hiệu quả làm câm gen của nấm thông qua xét nghiệm reporter gene có tên luciferase. Phân tử  siRNAs chuyển hóa từ cây chủ nhắm đích đến là gen ALS của oomycete được người ta tìm thấy nhờ giải trình tự small RNA. Biểu hiện gen ALS của nấm P. infestans giảm đi trong giai đoạn xâm niễm đầu tiên của dòng khoai tây HIGS-ALS, nhờ kết quả qRT-PCR.  Dòng khoai tây HIGS-ALS cho thấy có tính trạng kháng bệnh mốc sương tăng lên qua xét nghiệm lá. Sự im lặng gen ALS còn mang đến tính kháng bệnh mốc sương mạnh mẽ đối với dòng khoai tây HIGS trong nghiệm thức ở gần đồng ruộng châu Âu và nghiệm thức đồng ruộng ở Mỹ kháng lại mẫu phân lập nấm P. infestans của châu Âu và Mỹ, theo thứ tự. Kết quả cho thấy giá trị của công nghệ di truyền HIGS  nhằm phát triển tính kháng mới về số lượng của khoai tây chống lại nấm Phytophthora infestans.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/40344624/

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Bí mật bộ gen khoai tây châu Âu: Nhỏ nhưng khác biệt lớn

 Bí mật bộ gen khoai tây châu Âu: Nhỏ nhưng khác biệt lớn

Bùi Anh Xuân theo Viện Max Planck.

Các nhà nghiên cứu từ LMU và Viện Nghiên cứu Nhân giống Cây trồng Max Planck đã tái tạo bộ gen của mười giống khoai tây lịch sử và phát hiện rằng chúng đã bao phủ 85% tổng độ biến đổi của các giống khoai tây hiện đại ở châu Âu.

Khoai tây là nguồn thực phẩm quan trọng của hơn 1,3 tỷ người trên toàn thế giới. Mặc dù có vai trò lớn đối với an ninh lương thực toàn cầu, nhưng những tiến bộ trong nhân giống khoai tây vẫn còn tương đối hạn chế. Đáng chú ý, nhiều giống khoai tây phổ biến hiện nay đã được lai tạo từ hàng chục năm trước.

Nguyên nhân chính của sự chậm tiến này là do bộ gen phức tạp của khoai tây. Không giống như các loài thực vật thông thường có hai bộ gen, mỗi tế bào khoai tây chứa bốn bản sao của bộ gen, gây khó khăn cho các phương pháp lai tạo truyền thống.

Tuy nhiên, một bước đột phá quan trọng đã được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu do giáo sư Korbinian Schneeberger dẫn đầu tại Đại học Ludwig-Maximilians München (LMU) và Viện Nghiên cứu Nhân giống Cây trồng Max Planck. Theo công bố trên tạp chí Nature, nhóm nghiên cứu đã tái tạo thành công bộ gen của mười giống khoai tây lịch sử. Quan trọng hơn, họ đã sử dụng dữ liệu này để phát triển một phương pháp mới, giúp tái tạo bộ gen khoai tây nhanh hơn và hiệu quả hơn. Thành tựu này mở ra triển vọng lớn trong việc cải thiện giống khoai tây và nâng cao năng suất trồng trọt.

Trong một nghiên cứu hợp tác với Đại học Wageningen, Viện Di truyền Thực vật và Nghiên cứu Cây trồng Leibniz (IPK) và Đại học Jiaotong Tây An (Trung Quốc), nhóm nghiên cứu đã chọn các giống khoai tây lịch sử, một số đã được trồng từ thế kỷ 18.

Giáo sư Schneeberger chia sẻ: "Những giống khoai tây này có nguồn gốc từ thời kỳ đầu của các chương trình nhân giống châu Âu. Chúng tôi muốn đánh giá mức độ đa dạng di truyền của chúng để hiểu rõ hơn về tiềm năng di truyền của khoai tây hiện đại".

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng di truyền của khoai tây khá hạn chế. Chỉ với mười giống khoai tây lịch sử, các nhà khoa học đã bao phủ khoảng 85% tổng sự biến đổi di truyền của tất cả các giống khoai tây hiện đại ở châu Âu. Điều này cho thấy các giống khoai tây ngày nay phần lớn kế thừa nguồn gen từ một nhóm hạn chế các giống tổ tiên.

Phát hiện này mở ra hướng đi mới trong cải thiện nhân giống khoai tây, giúp các nhà nghiên cứu tìm kiếm phương pháp gia tăng sự đa dạng di truyền, nâng cao năng suất và khả năng thích nghi của cây trồng.

Hiệu ứng thắt cổ chai sau khi khoai tây được du nhập từ Nam Mỹ

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu ứng thắt cổ chai đóng vai trò quan trọng trong sự hạn chế đa dạng di truyền của khoai tây. Khoai tây bắt đầu được du nhập từ Nam Mỹ vào thế kỷ 16, nhưng số lượng giống ban đầu rất ít và phần lớn không thể thích nghi với môi trường châu Âu.

Quá trình này đã thu hẹp nguồn gen và tình trạng càng trầm trọng hơn do ảnh hưởng của dịch bệnh. Một minh chứng điển hình là đại dịch bệnh mốc sương vào những năm 1840, khiến mùa màng thất bát và dẫn đến nạn đói thảm khốc, đặc biệt ở Ireland, nhưng cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều khu vực khác ở châu Âu.

Một phát hiện đáng ngạc nhiên từ nghiên cứu cho thấy sự khác biệt giữa các bản sao nhiễm sắc thể của khoai tây có thể rất lớn.

Giáo sư Schneeberger giải thích: "Do nguồn gen khoai tây khá hạn chế, số lượng nhiễm sắc thể khác nhau không nhiều. Tuy nhiên, khi có sự khác biệt, mức độ phân hóa của chúng vượt xa bất kỳ loài thực vật thuần hóa nào trước đây".

Điều thú vị là sự khác biệt này lớn gấp khoảng 20 lần so với ở con người. Theo các nhà khoa học, những khác biệt này xuất hiện từ trước khi khoai tây được đưa vào châu Âu. Người bản địa Nam Mỹ bắt đầu thuần hóa khoai tây khoảng 10.000 năm trước và quá trình này có thể đã dẫn đến sự lai tạo với các loài hoang dã, góp phần làm phong phú thêm hệ gen.

Nhóm nghiên cứu đã phát triển một phương pháp đột phá để phân tích bộ gen của 2.000 giống khoai tây được đăng ký tại Liên minh Châu Âu.

Thay vì mất nhiều thời gian và công sức để tạo dữ liệu nhằm tái tạo bộ gen, phương pháp này so sánh dữ liệu thu thập nhanh chóng với các bộ gen đã biết để xác định các nhiễm sắc thể có mặt trong từng giống khoai tây.

Các nhà khoa học đã chứng minh hiệu quả của phương pháp này với giống Russet Burbank, một giống khoai tây ra đời từ năm 1908 và vẫn là tiêu chuẩn cho khoai tây chiên hiện nay.

Giáo sư Schneeberger nhấn mạnh"Kiến thức về trình tự bộ gen là nền tảng cho nhiều phương pháp nhân giống cây trồng, từ lai tạo truyền thống đến kỹ thuật chỉnh sửa gen hiện đại. Trong tương lai, chúng ta sẽ không còn phải làm việc thiếu thông tin này nữa".

Phát hiện này mở ra triển vọng mới cho ngành nhân giống khoai tây, giúp cải thiện năng suất, chất lượng và khả năng thích nghi với môi trường một cách hiệu quả hơn.

Nghiên cứu mới tiết lộ tổ tiên bất ngờ của khoai lang

 Nghiên cứu mới tiết lộ tổ tiên bất ngờ của khoai lang

Anh Hiền - Tiasang, theo Boyce Thompson Institute

Khoai lang nuôi sống hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt ở vùng Cận Sahara châu Phi, nơi sức chống chịu tự nhiên của khoai lang trước những cực đoan khí hậu khiến cho nó trở thành quan trọng với an ninh lương thực. Nhưng loài cây ăn củ đầy khiêm tốn này đã giữ kín những bí mật di truyền của tổ tiên qua hàng thập kỷ.

Hiện tại, các nhà khoa học cuối cùng đã giải mã được bộ gene đầy phức tạp của nó, qua đó tiết lộ câu chuyện nguồn gốc đầy phức tạp của nó và cung cấp những công cụ hữu hiệu có thể giúp cải thiện sản lượng của loài cây lương thực này.

DNA của khoai lang phức tạp đến lạ thường. Nếu con người có hai bộ nhiễm sắc thể, mỗi bộ từ cha hoặc mẹ, khoai lang có tới sáu. Điều kiện này, hay còn gọi là hexaploidy (thuật ngữ chỉ một sinh vật có sáu bộ nhiễm sắc thể) đã khiến cho mã di truyền của chúng giống như  được tái cấu trúc sáu bộ sách bách khoa toàn thư hoàn toàn khác biệt nhưng lại tương tự nhau, và được xáo trộn với nhau.

Một nhóm nghiên cứu do giáo sư Zhangjun Fei tại Viện nghiên cứu Boyce Thompson đạt dược một đột phá đáng kể, như đã được miêu tả trong bài báo xuất bản trên tạp chí Nature Plants. Sử dụng máy giải trình tự DNA tiên tiến, cùng với sự hỗ trợ của các kỹ thuật tiên tiến khác, họ đã tạo ra bộ di truyền hoàn chỉnh đầu tiên tạo nên ‘Tanzania’ – một giống khoai lang ở châu Phi có khả năng kháng bệnh và điều kiện khô hạn.

Thách thức chính của công trình này là gỡ gối 90 nhiễm sắc thể của loài cây này và tổ chức chúng thành sáu bộ nhiễm sắc thể đầu tiên, được gọi là đa bội. Nhóm nghiên cứu đã đạt được chia tách  một cách đầy đủ, hay còn gọi là pha, câu đố di truyền phức tạp đó, điều chưa từng làm được trước đây.

“Khi làm được điều này, chúng tôi lần đầu tiên có được bộ gene ở cấp độ rõ ràng chưa từng có trước đây”, Fei giải thích. “Nó cho phép chúng tôi đọc được câu chuyện di truyền của khoai lang với chi tiết đáng kinh ngạc”.

Nghiên cứu này cho thấy sự phức tạp ngoạn mục. Hệ gene khoai lang mà một tập hợp khảm từ vô vàn tổ tiên hoang dại, một số cho đến nay còn chưa được nhận diện. Khoảng một phần ba thuộc loài Ipomoea aequatoriensis, một loài hoang dại được tìm thấy ở Ecuador vốn xuất hiện như một hậu duệ trực tiếp của một tổ tiên khoai lang. Một phần đáng kể khác trong bộ gene từ một loài ở Trung Mỹ tên là Ipomoea batatas 4x, trên thực tế có thể vẫn còn chưa được khám phá trong thế giới tự nhiên.

“Không giống những gì chúng ta thấy ở lúa mì, nơi những đóng góp của tổ tiên có thể được tìm thấy trong những phân đoạn bộ gene riêng rẽ”, Shan Wu, tác giả thứ nhất của bài báo, nói, “ở khoai lang, những trình tự di truyền của tổ tiên được xoắn vặn trên cùng nhiễm sắc thể, tạo nên một cấu trúc bộ gene độc đáo”.

Di sản di truyền xoắn xuýt này có nghĩa, khoai lang có thể được phân loại có mục đích như một “đa bội dị hợp phân mảnh” – về cơ bản là một loại lai xuất hiện từ những loài khác nhau nhưng hành xử về mặt di truyền như thể đến từ một loài duy nhất vậy. Sự hòa trộn bộ hene và tái tổ hợp khiến cho khoai lang có khả năng thích ứng và kháng bệnh đáng ngạc nhiên, những đặc điểm quan trọng cho sự tồn tại của nông dân khắp thế giới.

“Sáu bộ nhiễm sắc thể của khoai lang cũng đóng góp vào sự tăng cường sức chống chịu của nó”, Fei cho biết thêm. “Với nhiều biến dị di truyền quan trọng, loài cây này có thể lưu giữ nhiều bản sao “sơ cua” để giúp sự sống sót của nó trước hạn hán, kháng sâu bệnh và thích những với những môi trường khác nhau  – một đặc điểm như một tấm đệm đa bội”.

Tuy nhiên, để có được hiểu biết đầy đủ về tiềm năng di truyền của khoai lang sẽ đòi hỏi sự giải mã vô số biến dị từ những vùng khác nhau, mỗi vùng có thể đem đến nhiều đặc điểm di truyền mà có thể đã bị mất mát đi ở những vùng khác.

Nghiên cứu này do Fei và nhóm nghiên cứu của ông thực hiện đã cho thấy nó còn hơn cả một cột mốc học thuật. Được trang bị hiểu biết rõ ràng hơn về tính di truyền phức tạp của khoai lang, những người làm công tác nhân giống có thể nhận diện một cách hiệu quả các gene phản hồi với những đặc tính chính như năng suất, hàm lượng dinh dưỡng, khả năng kháng hạn và bệnh tật. Sự chính xác này có thể làm gia tốc sự phát triển những giống mới được cải thiện về đặc tính tốt.

Vượt ra ngoài một công trình nghiên cứu về khoai làng, công trình này chứng minh các công cụ bộ gene hiện đại có thể giúp giải mã những bộ gene phức tạp khác bởi nhiều loài cây quan trọng như lúa  mì, bông vải và chuối đều đó nhiều bộ nhiễm sắc thể.

Vì khí hậu đã thay đổi và sức ép sâu bệnh đang gia tăng, việc hiểu về những câu đố di truyền sẽ là điều tối cần thiết cho việc tạo ra những giống cây trồng có sức chống chịu và giải quyết những thách thức về an ninh lương thực.

Phân lập và định tính hai activators MYBs có tính bổ sung anthocyanin: IbMYB2 và IbMYB3, trong cây khoai lang

 Phân lập và định tính hai activators MYBs có tính bổ sung anthocyanin: IbMYB2 và IbMYB3, trong cây khoai lang

Nguồn: Jian WangZhuo ChenYang LuXiaobei ZhangYizhao ChenXiangrui LiYi LiuYonghua LiuSunjeet KumarZhixin ZhuGuopeng Zhu. 2025. Beyond IbMYB1: Identification and Characterization of Two Additional Anthocyanin MYB Activators, IbMYB2 and IbMYB3, in Sweetpotato. Plants (Basel); 2025 Sep 18; 14(18):2896. doi: 10.3390/plants14182896.

Khoai lang biểu hiện sắc tố màu tím rất đa dạng nhờ sự tích tụ anthocyanin. Trong khi nghiên cứu hiện nay về cơ bản các activators MYB thường tập trung vào IbMYB1 trong củ khoai có thịt màu tím, thì sự đa dạng màu sắc ấy còn cho thấy có những activators MYB khác nữa. Người ta đã xác định được trước đó IbMYB2 và IbMYB3 về màu tím của lá khoai lang. Ở đây, tác giá khai thác sự định vị trên nhiễm sắc thể, phylogeny (di truyền huyết thống), và kịch bản tiến hóa của IbMYB1/2/3 thông qua sử dụng 4 hệ gen cây IpomoeaIbMYB1/2/3 định vị kế cận nhau thành một chùm gen “anthocyanin MYB”, giống như kết quả của lặp đoạn cùng song song (tandem duplications). Tất cả 3 IbMYBs kích thích anthocyanins trong cây thuốc lá và tăng hoạt promoters của những gen chủ chốt điều hành lộ trình anthocyanin: gen IbCHS-D và IbDFR-B. Phẩn tích biểu hiện gen giữa các giống khoai lang khác nhau; kết quả IbMYB1 thống trị màu tím của thịt củ khoai tươi, trong khi, IbMYB2/3 tham gia vào màu lá và màu vỏ củ khoai. Sự biểu hiện mạnh mẽ của IbMYB1/2/3 trong khoai lang kích hoạt rễ xơ màu tím. Transcriptomics của gen IbMYB2-OX rễ xơ cho thấy nó điều tiết kiểu “up” của toàn bộ gen điều hành chu trình anthocyanin. Những phân tử “upregulated transcription factors” có hiệu quả cao là IbMYB27 và IbHLH2. Ảnh hưởng ức chế bởi IbMYB27 có thể giải thích kết quả sắc tố mờ nhạt trong rễ khoai tồn trữ IbMYB2-OX. Vai trò của IbMYB2/3 trong điều tiết siêu nhạy (fine-tuning) về sắc tố tím của khoai lang đã được tóm tắt. Đây là kết quả bổ sung cho nhiều kết quả trước đây về IbMYB1, có giá trị khoa học tốt trong mạng lưới điều hòa anthocyanin vô cùng phức tạp và hỗ trợ tích cực cho cải tiến giống khoai lang có hàm lượng dinh dưỡng cao và phẩm chất thẩm mỹ.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41012047/

Hình: Mức độ tương đồng của trình tự DNA và tìm kiếm vị trí gen đích trên nhiễm sắc thể của gen IbMYB1IbMYB2, and IbMYB3