CẢI TIẾN GIỐNG KHOAI

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2022

Kiến trúc di truyền của tính trạng thân bò và vỏ củ khoai tây tứ bội khi trưởng thành

 Kiến trúc di truyền của tính trạng thân bò và vỏ củ khoai tây tứ bội khi trưởng thành

Nguồn: Maria V. Caraza-Harter & Jeffrey B. Endelman. 2022. The genetic architectures of vine and skin maturity in tetraploid potato Theoretical and Applied Genetics Sept. 2022; vol. 135: 2943–2951

Kiến trúc di truyền của tính trạng thân bò cây khoai tây và vỏ củ khoai khi trưởng thành, cũng như tương quan giữa các tính trạng này đã được người ta nghiên cứu thông qua kỹ thuật di truyền số lượng và genome học.

Thân bò khoai tây (potato vine) và vỏ củ chín (skin maturity), liên quan đến mức độ hóa già của lá (foliar senescence) và sự bám chặt của biểu bì củ khoai (tuber periderm), theo thứ tự. Tất cả đều quan trọng cho sản lượng khoai tây và cho nội dung cải tiến giống. Mục tiêu của nghiên cứu này là  nghiên cứu kiến trúc di truyền của những tính trạng nói trên trong một tập đoàn giống khoai tây  được sử dụng làm “genome-wide association” với 586 mẫu giống, thông qua phương pháp “joint linkage mapping” trong một “half-diallel subset” (N = 397). Tính trạng “skin maturity” được đo lường bằng phân tích hình ảnh sau khi thu hoạch vào lúc 120 ngày sau khi trồng. Để làm chính xác ảnh hưởng của tính trạng “vine maturity” đối với “skin maturity” trong điều kiện như vậy, người ta sử dụng phương pháp “covariate” trong phân tích thống kê (các giá trị hợp sai). Hệ số di truyền trên cơ sở chạy “10 K SNP array” là 0,33 đối với tính trạng “skin maturity” so sánh với 0,46 của tính trạng “vine maturity”. Chỉ có một QTLs thứ yếu được tìm thấy đối với tính trạng “skin maturity”, QTL lớn nhất định vị trên nhiễm sắc thể 9, giải thích được 8% biến thiên kiểu hình. Giống như kết quả của nhiều nghiên cứu truóc đó, S. tuberosum Cycling DOF Factor 1 (CDF1) có ảnh hưởng lớn đến tính trạng “vine maturity”, giải thích được 33% biến thiên kiểu hình trong nghiệm thức “bi-allelic SNP”; giải thích được 44% biến thiên kiểu hình trong nghiệm thức “half-diallel” như một QTL có tính chất “multi-allelic”. Từ những ảnh hưởng dự đoán ấy của haplotypes bố mẹ trong nghiệm thức “half-diallel” và từ kiến thức có trước đó của “allelic series” đối với CDF1, alen CDF1 của mỗi haplotype được người ta dự đoán và khẳng định mạnh mẽ thống qua chạy trình tự DNA có tính chất “whole-genome sequencing”. Khả năng nối kết các alen có tính chất thống kê như vậy từ các mô phỏng toán học QTL với các alen sinh học trên cơ sở chạy trình tự DNA ghi nhận đây là một cột mốc mới trong nội dung cải tiến giống tứ bội thể nhờ thành tựu genomics.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-022-04159-z

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét